Sunday, September 8, 2024

Vô Sở Hữu tập 10 về chủ đề Phật Pháp với nhân vật chính là thầy Minh Tuệ - OWN NOTHING | Episode 10 | Thich Minh Tue monk | Dhutanga Buddhist Documentary

 
LỜI CẢM ƠN VÀ CÁO LỖI! Như vậy sau hơn 5 tháng bộ phim tài liệu Vô Sở Hữu về chủ đề Phật Pháp với nhân vật chính là thầy Minh Tuệ đã được hoàn thành. Công việc chính bao gồm: 
- Quay phim (27/3-31/3, 9/4, 5/5) 
- Phỏng vấn (3 lần) 
- Dựng phim (8/6 - 5/9) 
- Phụ đề (đến tập 5, còn lại sẽ được hoàn thành) 
- Bản dịch tiếng anh (hiện nay chưa chính xác, sẽ thuê người sửa lại) 
Cảm ơn anh chị em cô bác, những khán giả đầu tiên đã kiên nhẫn theo dõi đến tập cuối cùng! Xin gửi lời cảm ơn đến thầy Minh Tuệ cùng các anh đi cùng đã giúp đỡ trong hành trình, cảm ơn các Youtuber đã hữu duyên ghi lại hành trình của thầy. 
Trong tập cuối, em xin phép được sử dụng một số đoạn video ngắn từ các anh Vloger để tổng hợp lại hành trình của thầy. 
Nguồn tư liệu từ các kênh: 
- VTV, VTC, Thanh Niên, Kênh 14. 
- Anh Linh Vlogs 
- Nhân Gà Vlogs 
- Trường Vlogs 
- Tuấn Container 
- Thành Trung TV 
- Đáo Bỉ Ngạn TV 
Do đây là lần đầu thử sức làm phim, mà lại là phim tài liệu, chỉ có thể quay được một lần. Đặc biệt nhân vật chính là thầy Minh Tuệ được mọi người kính trọng cùng với chủ đề Phật Pháp khá khó và nhạy cảm nên có đôi chút áp lực. Trong quá trình tác nghiệp vì phải chạy ngang, chạy dọc để quay phim, nên khó tránh khỏi sai sót mà có những lời nói và hành động thất kính với thầy. Em cũng đã gặp thầy để xin lỗi về việc này, cũng mong quý khán giả bỏ qua! Trong phim cũng có những đoạn phim ồn nhiễu và cả những đoạn nói chuyện không hay từ em và các anh Phật Tử đi cùng, cũng mong quý khán giả lượng thứ bỏ qua. ------------------ 
Q: Trong tương lai bạn có đi quay phim nữa không? Mình đi quay phim chỉ là ngẫu nhiên, thấy thầy trên mạng nên phát sinh ý tưởng thử đi làm phim vì lúc đó đang muốn làm gì đó mới mẻ, đó không phải nghề nghiệp của mình. Nên trong tương lai mình không có kế hoạch hay dự định đi quay phim nữa. Trong thời gian tới mình sẽ dựng thêm bản phim ngắn 2 tiếng như mục đích và ý tưởng ban đầu và dừng việc làm phim ở đây. 
Q: Tại sao bạn không tiếp tục quay thầy nữa? Khi mình lên Thái Nguyên định quay tiếp 2-3 ngày nữa, nhưng thấy có nhiều người đi theo thầy, rồi mâu thuẫn tùm lum, tùm la nên cảm thấy câu chuyện không còn tự nhiên, vô tư như trước nữa, điều đó không đúng với mục đích quay phim ban đầu của mình. Mặt khác, nếu quay tiếp thì nội dung các câu hỏi đáp cũng vẫn lặp đi lặp lại như vậy nên mình đã chào thầy và đi lên Cao Bằng. 
Kết thúc công việc, mình muốn trở lại công việc thiết kế phần mềm thường ngày, đong gạo nấu cơm như bao người. 
Mình không muốn truy cầu danh tiếng, hay tận dụng để làm Youtube hay Tiktok gì thêm. 
Mình chỉ thuận tiện đi làm công việc mình thích với hy vọng nó có ích cho cộng đồng, không có công đức gì to lớn vô lượng cả! Mong có bạn Youtuber nào biết mình thì cũng không nên lăng xê trên mạng! Qua bộ phim, cũng hy vọng mọi người có thể tìm thấy những kiến thức hữu ích mà thầy đã chia sẻ để cải thiện bản thân. Chân thành cảm ơn! 
Tạm biệt và hẹn gặp mọi người!

 

 
 











 
 Discover a profound journey into the essence of simplicity and spiritual fulfillment in "Own Nothing". This captivating film delves into the lives and teachings of monks who have chosen to relinquish material possessions in pursuit of inner peace and enlightenment. Follow the monk of Thich Minh Tue as they navigate a path of minimalism and mindfulness, embracing the philosophy that true happiness is not found in owning more, but in needing less. Through stunning cinematography and intimate interviews, "Own Nothing" explores the principles of detachment, community living, and the deep sense of freedom that comes from letting go. Thích Minh Tuệ is a renowned Buddhist monk in Vietnam known for his extraordinary journey of walking from the North to the South of Vietnam over a span of 6 years. Throughout this journey, he traveled through various regions of Vietnam with the purpose of spreading the Dharma, fostering connections, and conveying the message of compassion and love of Buddhism to the people. Thích Minh Tuệ's pilgrimage was not only a test of physical endurance and willpower but also an opportunity for him to directly interact with people from different walks of life, listen to their struggles and concerns, and offer advice, comfort, and encouragement through Buddhist teachings. This helped people find peace and faith in their lives. His journey left a profound impression and spread widely among Buddhist communities as well as in society. Thích Minh Tuệ has become a symbol of perseverance, compassion, and tireless dedication to the mission of spreading the Dharma.
 

Khổ (chữ Hán: 苦, tiếng Phạn: duḥkha, tiếng Pali: dukkha) là một khái niệm quan trọng của Phật giáo, là cơ sở của Tứ diệu đế. Khổ là một trong ba tính chất của sự vật và được đúc kết trong câu nhận định Đời là bể khổ.

Không phải chỉ là những cảm thụ khó chịu mới là Khổ. Khổ dùng để chỉ tất cả mọi hiện tượng vật chất và tâm thức, xuất phát từ Ngũ uẩn, chịu dưới quy luật của sự thay đổi và biến hoại. Như thế tất cả những điều an lạc đang có cũng là khổ vì chúng sẽ hoại diệt. Khổ xuất phát từ Ái (sa. tṛṣṇā) và con đường thoát khổ là Bát chính đạo..

Chân lý thứ nhất - Khổ đế - của Tứ diệu đế nói về tính chất của khổ như sau:

Phân loại

Xét theo nguyên nhân và mức độ gây khổ thì có tam khổ (ba loại khổ), còn nếu xét theo hình thức sự việc thì có bát khổ (tám loại khổ).[1]

Tam khổ

Tam khổ là ba nỗi khổ xét theo nguyên nhân và mức độ gây khổ, gồm:

  1. Khổ khổ (sa. duḥkha-duḥkha)
    Nghĩa là khổ vì những sự khổ của thế tục, chẳng hạn khổ vì đói khát, khổ vì phải trải nạn chiến tranh. Đây là mức độ khổ thấp nhất mà ai cũng cảm nhận được.[2]
  2. Hoại khổ (sa. vipariṇāma-duḥkha)
    Nghĩa là khổ vì sự thay đổi. Ở cấp độ này, ngay cả những kinh nghiệm tưởng có vẻ khoái lạc thì cũng là khổ. Sở dĩ con người cảm thấy các kinh nghiệm đó là vui sướng là bởi họ đã so sánh chúng với những kinh nghiệm đau đớn. Sự vui sướng đó chỉ là tương đối. Trong khi đó, sự vật luôn thay đổi, vì vậy sau một thời gian thì những kinh nghiệm tưởng chừng là vui sướng đó chỉ còn là sự nhàm chán, không thỏa mãn,[3] sự vui sướng rồi cũng mất đi.
  3. Hành khổ (sa. saṃskāra-duḥkha)
    Nghĩa là cái khổ bao trùm tam giới, sáu cõi (tất cả chúng sanh trong luân hồi). Minh họa của cái khổ này là hợp uẩn cấu nhiễm của chúng sanh và cái hợp uẩn cấu nhiễm này không những là nền tảng cho cái khổ trong kiếp này mà còn là nền tảng cho đau khổ trong kiếp sau. Cái khổ này nối tiếp nhau kéo từ đời này sang đời khác một khi con người vẫn nằm trong vòng vô minh.[4] Sự nhận biết về khổ ở mức độ này là sâu sắc nhất.[5]

Bát khổ

Bát khổ là tám nỗi khổ xét theo hình thức sự việc, thực ra đều thuộc loại Khổ khổ trong Tam khổ.[1] Nhân sinh quan Phật giáo cho rằng "đời là bể khổ"; con người ai ai cũng phải chịu bát khổ, gồm:[6][7][8]

  1. Sinh khổ
    Con người khổ trong sự sinh sống. Người ta khổ từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ. Con phải nằm trong bụng mẹ chật hẹp, cũng là khổ. Mẹ phải mang nặng đẻ đau biết bao khó nhọc, đó là khổ. Sinh con ra rồi thì cha mẹ cũng phải khổ. Con người sống trên đời phải mưu kế sinh nhai, cũng là khổ.
  2. Lão khổ
    Khi đến tuổi già thì thân thể trở nên già nua, mắt mờ, tai điếc. Đó là khổ.
  3. Bệnh khổ
    Con người phải chịu đau đớn, khổ sở cả về thể xác và tinh thần khi mắc bệnh. Đó là khổ.
  4. Tử khổ
    Khi sắp chết thì sợ hãi tinh thần, ngạt hơi, thân xác rất đau khổ. Chết đi rồi thì thân xác phân hủy, hôi tanh, gia quyến đau lòng. Đó là khổ.
  5. Ái biệt ly khổ
    Con người phải chịu khổ khi yêu mà lại phải chia lìa điều mình yêu thích, hàng ngày đem lòng mong nhớ. Đó là khổ. Có hai loại ái biệt ly khổ: sinh ly (chia lìa nhau khi còn sống) và tử biệt (chia lìa nhau khi chết).
  6. Sở cầu bất đắc khổ (hay cầu bắt đắc khổ, bất tác ý khổ)
    Con người khổ khi không được toại (bất đắc) nguyện vọng, tham muốn, khao khát của bản thân (sở cầu). Chẳng hạn, lúc đói thì muốn có cái ăn cái mặc; lúc no lại muốn giàu sang phú quý.
  7. Oán tắng hội khổ (怨憎会苦)
    Con người chịu khổ khi phải tiếp xúc với những thứ mà không thích hoặc oán ghét.
  8. Ngũ uẩn khổ (hay ngũ uẩn xí thạnh khổ)
    Con người khổ vì có sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn - sắc, thụ, tưởng, hànhthức - trong cơ thể. Chẳng hạn, mơ ước (tưởng) quá thì cũng khổ, biết (thức) nhiều thì cũng khổ.




 
Own Nothing Tập 6


  

Tập 5  


Trong Phật giáo, Tứ Diệu Đế (hay Tứ Thánh Đế) là "những sự thật của bậc thánh", là những sự thật hay những cái có thật cho "những người xứng đáng về mặt tâm linh".[1][web 1][2] Các sự thật bao gồm:

  • khổ đế (dukkha sự không thỏa mãn, sự đau đớn) là một tính chất bẩm sinh khi tồn tại trong các cảnh luân hồi;[web 2][3][4]
  • tập đế (samudaya: nguồn gốc, sự sanh khởi hay là "nguyên nhân"): dukkha khởi cùng với taṇhā (ái).[web 3][5][6] Trong khi taṇhā được dịch một cách truyền thống trong các ngôn ngữ phương tây là 'nguyên nhân' của khổ (dukkha), taṇhā còn có thể được xem là yếu tố buộc chúng ta vào khổ, hoặc là một phản ứng với khổ, cố gắng để thoát khỏi nó;[7][8]
  • diệt đế (nirodha: sự đoạn diệt, sự chấm dứt, sự giam cầm): khổ có thể được chấm dứt hoặc được ngăn chặn bằng sự từ bỏ hoặc cắt đứt quan hệ với ái (taṇhā);[9][10][11][12] sự từ bỏ ái sẽ giải thoát khỏi sự trói buộc của khổ;[7][8]
  • đạo đế (magga: Bát chánh đạo) là con đường dẫn đến sự từ bỏ, sự đoạn diệt ái (tanha)  khổ (dukkha).[13][14][15]

A-la-hán (tiếng Phạn: arhat, arhant; tiếng Pali: arahat, arahant; tiếng Tạng: dgra com pa; tiếng Trung: 阿羅漢|阿羅漢) trong dân gian thường gọi là các vị La hán, theo Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Theravada) thì vị A-la-hán đã đạt tới Niết-bàn, thoát khỏi hoàn toàn Luân hồi.[1][2] Một A-la-hán khi còn sống còn được gọi là Hữu dư Niết-bàn (sopadhiśeṣanirvāṇa; savupadisesanibbāna), khi A-la-hán này viên tịch thì gọi là nhập Vô dư Niết bàn. La Hán dịch tiếng Anh là "người xứng đáng"[2] hoặc là "người hoàn hảo".[2][1]

BẬT PHỤ ĐỀ, VUI LÒNG BẤM VÀO NÚT [CC] Ở GÓC PHẢI VIDEO TURN ON SUBTITLES, PLEASE CLICK ON [CC] BUTTON IN RIGHT OF VIDEO. 
  Tập 1 

Khám phá hành trình sâu sắc vào bản chất của sự giản dị và viên mãn về mặt tinh thần trong "Không sở hữu". Bộ phim hấp dẫn này đi sâu vào cuộc sống và lời dạy của các nhà sư đã chọn từ bỏ của cải vật chất để theo đuổi sự bình yên nội tâm và giác ngộ. Hãy theo chân nhà sư Thích Minh Tuệ khi họ đi trên con đường tối giản và chánh niệm, nắm lấy triết lý rằng hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu nhiều hơn, mà là cần ít hơn. Thông qua kỹ thuật quay phim tuyệt đẹp và các cuộc phỏng vấn thân mật, "Không sở hữu" khám phá các nguyên tắc của sự tách biệt, cuộc sống cộng đồng và cảm giác tự do sâu sắc đến từ việc buông bỏ. Thích Minh Tuệ là một nhà sư Phật giáo nổi tiếng ở Việt Nam được biết đến với hành trình đi bộ phi thường từ Bắc vào Nam của Việt Nam trong khoảng thời gian 6 năm. Trong suốt hành trình này, ông đã đi qua nhiều vùng khác nhau của Việt Nam với mục đích truyền bá Phật pháp, nuôi dưỡng các mối liên hệ và truyền tải thông điệp từ bi và tình yêu của Phật giáo đến mọi người. Chuyến hành hương của Thích Minh Tuệ không chỉ là một cuộc thử thách về sức bền thể chất và ý chí mà còn là cơ hội để ông trực tiếp giao lưu với mọi người từ nhiều tầng lớp khác nhau, lắng nghe những đấu tranh và mối quan tâm của họ, và đưa ra lời khuyên, sự an ủi và động viên thông qua giáo lý Phật giáo. Điều này đã giúp mọi người tìm thấy sự bình an và niềm tin trong cuộc sống. Hành trình của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc và lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng Phật tử cũng như trong xã hội. Thích Minh Tuệ đã trở thành biểu tượng của sự kiên trì, lòng từ bi và sự cống hiến không mệt mỏi cho sứ mệnh truyền bá Phật pháp.

CÂU CHUYỆN PHÍA SAU 
Tôi là một lập trình viên ở Thanh Hoá, do áp lực công việc và cuộc sống khiến tôi căng thẳng nên tôi tìm đến Phật Pháp như là một lối thoát để giúp bản thân giảm bớt phiền não, tuy nhiên sau nhiều năm tìm hiểu tôi vẫn chưa hiểu thấu đáo được các giáo lý trong Phật giáo. Trong một lần tình cờ lướt Tiktok tôi thấy một clip về thầy Minh Tuệ và được biết thầy đang đi đến Thanh Hoá. Tôi liền lấy xe máy và đi 150km xuống Quảng Xương để gặp thầy mục đích là để trò chuyện và kiểm chứng những thứ tôi đã học được có đúng không, tiện thể tôi cầm theo chiếc máy ảnh đã nhiều năm không dùng đến để ghi phim tài liệu. Bằng một sức hút nào đó, tôi quyết định đi theo thầy lâu hơn và quay nhiều hơn về các cuộc trò chuyện và những sự việc xảy ra trên đường tại Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định và Thái Nguyên. Cuối cùng khi đến Bắc Kạn, có một anh đi cùng đã tranh cãi với tôi về việc đi quay phim là mất phước, tôi cho rằng đó là một dấu hiệu nhân duyên gì đó và cũng nghĩ quay vậy là vừa đủ, vậy nên tôi đã quay về. Khi quay về tôi lưu 50GB phim vào ổ cứng và cũng không để ý đến, tôi tiếp tục đi làm nhưng vẫn theo dõi thầy thường xuyên và cũng không nghĩ rằng thầy sẽ được mọi người chú ý và có cả tăng đoàn đông đến như vậy. Khi thầy mất tích ở Huế nhiều người đã bình luận muốn ai đó làm phim về thầy, vậy nên tôi gác lại công việc và bắt đầu dựng phim. Tôi đã lên nhiều kịch bản để dựng phim sao cho hoành tráng, nhưng cuối cùng quyết định để nó nguyên vẹn, các phim tài liệu này được dựng chân thực theo từng mốc thời gian trong ngày, không có sự sắp xếp theo kịch bản nào hay tường thuật thêm, mục đích để bảo đảm tính toàn vẹn của sự kiện. Tất cả những điều tôi kể trên đây là câu chuyện thật và mọi sự kiện đều thuận theo sắp đặt của nhân duyên. 
Chân thành! Hà Long, Quay phim.

Tập 2 

Tập 3 

Trailer

VÔ SỞ HỮU | Rewind | Tua lại phim trong 5 phút

 

Tìm hiểu hành trình sâu sắc vào bản chất của sự đơn giản và sự thỏa mãn tinh thần trong phim "Vô Sở Hữu". Phim tài liệu này này đi sâu vào cuộc sống và giáo lý của nhà sư đã chọn từ bỏ của cải vật chất để theo đuổi sự bình yên nội tâm và sự giác ngộ. Theo chân nhà sư Thích Minh Tuệ khi họ đi theo con đường tối giản và chánh niệm, đón nhận triết lý rằng hạnh phúc thật sự không phải nằm ở việc sở hữu nhiều hơn, mà là cần ít hơn. 

Qua những cảnh quay tuyệt đẹp và những cuộc phỏng vấn thân mật, "Vô Sở Hữu" khám phá các nguyên tắc về sự buông bỏ, cuộc sống nội tâm và cảm giác tự do sâu sắc đến từ việc buông xả. Thích Minh Tuệ là một nhà sư nổi tiếng tại Việt Nam với hành trình đặc biệt khi thầy đã thực hiện chuyến bộ hành Bắc - Nam kéo dài suốt 6 năm. Trong suốt hành trình này, thầy đã đi qua nhiều vùng đất trên khắp Việt Nam, nhằm mục đích hoằng pháp, gieo duyên và mang thông điệp từ bi, yêu thương của Phật giáo đến với mọi người. 

 Hành trình bộ hành của Thầy Thích Minh Tuệ không chỉ là một thử thách về thể lực và ý chí, mà còn là một cơ hội để thầy tiếp xúc trực tiếp với nhiều tầng lớp nhân dân, lắng nghe và thấu hiểu những khó khăn, nỗi niềm của họ. Qua đó, thầy có thể mang đến những lời khuyên, sự an ủi và động viên từ giáo lý Phật giáo, giúp họ tìm thấy sự bình an và niềm tin trong cuộc sống. Hành trình này đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc và lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng Phật tử cũng như trong xã hội. 

Thầy Thích Minh Tuệ trở thành một biểu tượng của sự kiên trì, lòng từ bi và sự cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp hoằng pháp.

Monday, September 2, 2024

OWN NOTHING | Episode 09 | Thich Minh Tue monk | Dhutanga Buddhist Documentary - Vô Sở Hữu Tập 9 Thầy Thích Minh Tuệ

 

 
 











 
 Discover a profound journey into the essence of simplicity and spiritual fulfillment in "Own Nothing". This captivating film delves into the lives and teachings of monks who have chosen to relinquish material possessions in pursuit of inner peace and enlightenment. Follow the monk of Thich Minh Tue as they navigate a path of minimalism and mindfulness, embracing the philosophy that true happiness is not found in owning more, but in needing less. Through stunning cinematography and intimate interviews, "Own Nothing" explores the principles of detachment, community living, and the deep sense of freedom that comes from letting go. Thích Minh Tuệ is a renowned Buddhist monk in Vietnam known for his extraordinary journey of walking from the North to the South of Vietnam over a span of 6 years. Throughout this journey, he traveled through various regions of Vietnam with the purpose of spreading the Dharma, fostering connections, and conveying the message of compassion and love of Buddhism to the people. Thích Minh Tuệ's pilgrimage was not only a test of physical endurance and willpower but also an opportunity for him to directly interact with people from different walks of life, listen to their struggles and concerns, and offer advice, comfort, and encouragement through Buddhist teachings. This helped people find peace and faith in their lives. His journey left a profound impression and spread widely among Buddhist communities as well as in society. Thích Minh Tuệ has become a symbol of perseverance, compassion, and tireless dedication to the mission of spreading the Dharma.
 

Khổ (chữ Hán: 苦, tiếng Phạn: duḥkha, tiếng Pali: dukkha) là một khái niệm quan trọng của Phật giáo, là cơ sở của Tứ diệu đế. Khổ là một trong ba tính chất của sự vật và được đúc kết trong câu nhận định Đời là bể khổ.

Không phải chỉ là những cảm thụ khó chịu mới là Khổ. Khổ dùng để chỉ tất cả mọi hiện tượng vật chất và tâm thức, xuất phát từ Ngũ uẩn, chịu dưới quy luật của sự thay đổi và biến hoại. Như thế tất cả những điều an lạc đang có cũng là khổ vì chúng sẽ hoại diệt. Khổ xuất phát từ Ái (sa. tṛṣṇā) và con đường thoát khổ là Bát chính đạo..

Chân lý thứ nhất - Khổ đế - của Tứ diệu đế nói về tính chất của khổ như sau:

Phân loại

Xét theo nguyên nhân và mức độ gây khổ thì có tam khổ (ba loại khổ), còn nếu xét theo hình thức sự việc thì có bát khổ (tám loại khổ).[1]

Tam khổ

Tam khổ là ba nỗi khổ xét theo nguyên nhân và mức độ gây khổ, gồm:

  1. Khổ khổ (sa. duḥkha-duḥkha)
    Nghĩa là khổ vì những sự khổ của thế tục, chẳng hạn khổ vì đói khát, khổ vì phải trải nạn chiến tranh. Đây là mức độ khổ thấp nhất mà ai cũng cảm nhận được.[2]
  2. Hoại khổ (sa. vipariṇāma-duḥkha)
    Nghĩa là khổ vì sự thay đổi. Ở cấp độ này, ngay cả những kinh nghiệm tưởng có vẻ khoái lạc thì cũng là khổ. Sở dĩ con người cảm thấy các kinh nghiệm đó là vui sướng là bởi họ đã so sánh chúng với những kinh nghiệm đau đớn. Sự vui sướng đó chỉ là tương đối. Trong khi đó, sự vật luôn thay đổi, vì vậy sau một thời gian thì những kinh nghiệm tưởng chừng là vui sướng đó chỉ còn là sự nhàm chán, không thỏa mãn,[3] sự vui sướng rồi cũng mất đi.
  3. Hành khổ (sa. saṃskāra-duḥkha)
    Nghĩa là cái khổ bao trùm tam giới, sáu cõi (tất cả chúng sanh trong luân hồi). Minh họa của cái khổ này là hợp uẩn cấu nhiễm của chúng sanh và cái hợp uẩn cấu nhiễm này không những là nền tảng cho cái khổ trong kiếp này mà còn là nền tảng cho đau khổ trong kiếp sau. Cái khổ này nối tiếp nhau kéo từ đời này sang đời khác một khi con người vẫn nằm trong vòng vô minh.[4] Sự nhận biết về khổ ở mức độ này là sâu sắc nhất.[5]

Bát khổ

Bát khổ là tám nỗi khổ xét theo hình thức sự việc, thực ra đều thuộc loại Khổ khổ trong Tam khổ.[1] Nhân sinh quan Phật giáo cho rằng "đời là bể khổ"; con người ai ai cũng phải chịu bát khổ, gồm:[6][7][8]

  1. Sinh khổ
    Con người khổ trong sự sinh sống. Người ta khổ từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ. Con phải nằm trong bụng mẹ chật hẹp, cũng là khổ. Mẹ phải mang nặng đẻ đau biết bao khó nhọc, đó là khổ. Sinh con ra rồi thì cha mẹ cũng phải khổ. Con người sống trên đời phải mưu kế sinh nhai, cũng là khổ.
  2. Lão khổ
    Khi đến tuổi già thì thân thể trở nên già nua, mắt mờ, tai điếc. Đó là khổ.
  3. Bệnh khổ
    Con người phải chịu đau đớn, khổ sở cả về thể xác và tinh thần khi mắc bệnh. Đó là khổ.
  4. Tử khổ
    Khi sắp chết thì sợ hãi tinh thần, ngạt hơi, thân xác rất đau khổ. Chết đi rồi thì thân xác phân hủy, hôi tanh, gia quyến đau lòng. Đó là khổ.
  5. Ái biệt ly khổ
    Con người phải chịu khổ khi yêu mà lại phải chia lìa điều mình yêu thích, hàng ngày đem lòng mong nhớ. Đó là khổ. Có hai loại ái biệt ly khổ: sinh ly (chia lìa nhau khi còn sống) và tử biệt (chia lìa nhau khi chết).
  6. Sở cầu bất đắc khổ (hay cầu bắt đắc khổ, bất tác ý khổ)
    Con người khổ khi không được toại (bất đắc) nguyện vọng, tham muốn, khao khát của bản thân (sở cầu). Chẳng hạn, lúc đói thì muốn có cái ăn cái mặc; lúc no lại muốn giàu sang phú quý.
  7. Oán tắng hội khổ (怨憎会苦)
    Con người chịu khổ khi phải tiếp xúc với những thứ mà không thích hoặc oán ghét.
  8. Ngũ uẩn khổ (hay ngũ uẩn xí thạnh khổ)
    Con người khổ vì có sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn - sắc, thụ, tưởng, hànhthức - trong cơ thể. Chẳng hạn, mơ ước (tưởng) quá thì cũng khổ, biết (thức) nhiều thì cũng khổ.




 
Own Nothing Tập 6


  

Tập 5  


Trong Phật giáo, Tứ Diệu Đế (hay Tứ Thánh Đế) là "những sự thật của bậc thánh", là những sự thật hay những cái có thật cho "những người xứng đáng về mặt tâm linh".[1][web 1][2] Các sự thật bao gồm:

  • khổ đế (dukkha sự không thỏa mãn, sự đau đớn) là một tính chất bẩm sinh khi tồn tại trong các cảnh luân hồi;[web 2][3][4]
  • tập đế (samudaya: nguồn gốc, sự sanh khởi hay là "nguyên nhân"): dukkha khởi cùng với taṇhā (ái).[web 3][5][6] Trong khi taṇhā được dịch một cách truyền thống trong các ngôn ngữ phương tây là 'nguyên nhân' của khổ (dukkha), taṇhā còn có thể được xem là yếu tố buộc chúng ta vào khổ, hoặc là một phản ứng với khổ, cố gắng để thoát khỏi nó;[7][8]
  • diệt đế (nirodha: sự đoạn diệt, sự chấm dứt, sự giam cầm): khổ có thể được chấm dứt hoặc được ngăn chặn bằng sự từ bỏ hoặc cắt đứt quan hệ với ái (taṇhā);[9][10][11][12] sự từ bỏ ái sẽ giải thoát khỏi sự trói buộc của khổ;[7][8]
  • đạo đế (magga: Bát chánh đạo) là con đường dẫn đến sự từ bỏ, sự đoạn diệt ái (tanha)  khổ (dukkha).[13][14][15]

A-la-hán (tiếng Phạn: arhat, arhant; tiếng Pali: arahat, arahant; tiếng Tạng: dgra com pa; tiếng Trung: 阿羅漢|阿羅漢) trong dân gian thường gọi là các vị La hán, theo Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Theravada) thì vị A-la-hán đã đạt tới Niết-bàn, thoát khỏi hoàn toàn Luân hồi.[1][2] Một A-la-hán khi còn sống còn được gọi là Hữu dư Niết-bàn (sopadhiśeṣanirvāṇa; savupadisesanibbāna), khi A-la-hán này viên tịch thì gọi là nhập Vô dư Niết bàn. La Hán dịch tiếng Anh là "người xứng đáng"[2] hoặc là "người hoàn hảo".[2][1]

BẬT PHỤ ĐỀ, VUI LÒNG BẤM VÀO NÚT [CC] Ở GÓC PHẢI VIDEO TURN ON SUBTITLES, PLEASE CLICK ON [CC] BUTTON IN RIGHT OF VIDEO. 
  Tập 1 

Khám phá hành trình sâu sắc vào bản chất của sự giản dị và viên mãn về mặt tinh thần trong "Không sở hữu". Bộ phim hấp dẫn này đi sâu vào cuộc sống và lời dạy của các nhà sư đã chọn từ bỏ của cải vật chất để theo đuổi sự bình yên nội tâm và giác ngộ. Hãy theo chân nhà sư Thích Minh Tuệ khi họ đi trên con đường tối giản và chánh niệm, nắm lấy triết lý rằng hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu nhiều hơn, mà là cần ít hơn. Thông qua kỹ thuật quay phim tuyệt đẹp và các cuộc phỏng vấn thân mật, "Không sở hữu" khám phá các nguyên tắc của sự tách biệt, cuộc sống cộng đồng và cảm giác tự do sâu sắc đến từ việc buông bỏ. Thích Minh Tuệ là một nhà sư Phật giáo nổi tiếng ở Việt Nam được biết đến với hành trình đi bộ phi thường từ Bắc vào Nam của Việt Nam trong khoảng thời gian 6 năm. Trong suốt hành trình này, ông đã đi qua nhiều vùng khác nhau của Việt Nam với mục đích truyền bá Phật pháp, nuôi dưỡng các mối liên hệ và truyền tải thông điệp từ bi và tình yêu của Phật giáo đến mọi người. Chuyến hành hương của Thích Minh Tuệ không chỉ là một cuộc thử thách về sức bền thể chất và ý chí mà còn là cơ hội để ông trực tiếp giao lưu với mọi người từ nhiều tầng lớp khác nhau, lắng nghe những đấu tranh và mối quan tâm của họ, và đưa ra lời khuyên, sự an ủi và động viên thông qua giáo lý Phật giáo. Điều này đã giúp mọi người tìm thấy sự bình an và niềm tin trong cuộc sống. Hành trình của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc và lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng Phật tử cũng như trong xã hội. Thích Minh Tuệ đã trở thành biểu tượng của sự kiên trì, lòng từ bi và sự cống hiến không mệt mỏi cho sứ mệnh truyền bá Phật pháp.

CÂU CHUYỆN PHÍA SAU 
Tôi là một lập trình viên ở Thanh Hoá, do áp lực công việc và cuộc sống khiến tôi căng thẳng nên tôi tìm đến Phật Pháp như là một lối thoát để giúp bản thân giảm bớt phiền não, tuy nhiên sau nhiều năm tìm hiểu tôi vẫn chưa hiểu thấu đáo được các giáo lý trong Phật giáo. Trong một lần tình cờ lướt Tiktok tôi thấy một clip về thầy Minh Tuệ và được biết thầy đang đi đến Thanh Hoá. Tôi liền lấy xe máy và đi 150km xuống Quảng Xương để gặp thầy mục đích là để trò chuyện và kiểm chứng những thứ tôi đã học được có đúng không, tiện thể tôi cầm theo chiếc máy ảnh đã nhiều năm không dùng đến để ghi phim tài liệu. Bằng một sức hút nào đó, tôi quyết định đi theo thầy lâu hơn và quay nhiều hơn về các cuộc trò chuyện và những sự việc xảy ra trên đường tại Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định và Thái Nguyên. Cuối cùng khi đến Bắc Kạn, có một anh đi cùng đã tranh cãi với tôi về việc đi quay phim là mất phước, tôi cho rằng đó là một dấu hiệu nhân duyên gì đó và cũng nghĩ quay vậy là vừa đủ, vậy nên tôi đã quay về. Khi quay về tôi lưu 50GB phim vào ổ cứng và cũng không để ý đến, tôi tiếp tục đi làm nhưng vẫn theo dõi thầy thường xuyên và cũng không nghĩ rằng thầy sẽ được mọi người chú ý và có cả tăng đoàn đông đến như vậy. Khi thầy mất tích ở Huế nhiều người đã bình luận muốn ai đó làm phim về thầy, vậy nên tôi gác lại công việc và bắt đầu dựng phim. Tôi đã lên nhiều kịch bản để dựng phim sao cho hoành tráng, nhưng cuối cùng quyết định để nó nguyên vẹn, các phim tài liệu này được dựng chân thực theo từng mốc thời gian trong ngày, không có sự sắp xếp theo kịch bản nào hay tường thuật thêm, mục đích để bảo đảm tính toàn vẹn của sự kiện. Tất cả những điều tôi kể trên đây là câu chuyện thật và mọi sự kiện đều thuận theo sắp đặt của nhân duyên. 
Chân thành! Hà Long, Quay phim.

Tập 2 

Tập 3 

Trailer

THƯỢNG TOẠ THÍCH QUẢNG LONG - VỊ BỒ TÁT GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Trong văn học Phật giáo khi đề cập thuật ngữ “hoa ưu đàm”, chúng ta liên tưởng đến ý nghĩa của một loài hoa biểu trưng cho sự thánh thiện. Mấy vạn năm loài hoa này mới hiển hiện trên cuộc đời, có thể nói rằng khi có bậc Thánh xuất hiện thì dòng sông sẽ trong hơn và cây cối xanh tươi hơn. Điều này là một sự kiện đánh dấu khi Sidhatha (Tất Đạt Đa) giáng trần tại Lumbini (Lâm Tỳ Ni) trên 25 thế kỷ trước.

Không phải ngẫu nhiên Thái tử Tất Đạt Đa giáng trần trong hoàng cung Ca Tỳ La Vệ mà chúng ta phải nhìn dưới lăng kính tinh thần Phật giáo Đại thừa thì Đức Phật Thích Ca đã thành Phật trong quá khứ trải qua hằng hà sa số kiếp rồi.

Trong Kinh Pháp Hoa phẩm Như Lai Thọ Lượng ta hãy nghe Đức Phật thuyết: “Này Thiện nam tử! Thiệt Ta thành Phật nhẫn lại đây, đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na-do-tha A-tăng-kỳ cõi Tam thiên Đại thiên, giả sử có người nghiền làm vi trần qua phương đông, cách năm trăm nghìn muôn ức na-do-tha A-tăng-kỳ cõi nước, bèn rơi một bụi trần, đi qua phía đông như thế cho đến hết vi trần đó. Các thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải tính được, đếm được, cũng chẳng phải tâm lực biết đến được. Dùng trí tuệ Vô lậu của hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát cũng không thể biết được hạng số đó.”

Qua đoạn kinh văn trên, chúng ta cần nhìn Đức Phật qua ba Thân: Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Hóa Thân. Nhận thức sâu sắc như thế thì Đức Phật Đản sanh tại Lâm Tỳ Ni – đó là Ngài thị hiện trong thân Ứng Hóa và Ngài thành Đạo dưới Cội Bồ Đề thành Già Da, Chuyển Pháp Luân ở Lộc Uyển và Nhập Niết Bàn nơi thành Câu Thi Na.

Ứng Hóa Thân Phật nhằm tùy thuận chúng sanh, nên chúng ta thấy có Đức Phật lịch sử và Ngài thị hiện các tướng để chúng sanh nương nơi tướng ấy phát tâm tu tập. Tuy nhiên chúng ta thường hay dựa vào các pháp tướng và thường hay giải đãi quên mất bổn tâm. Ta hãy nghe một đoạn kinh văn khác: “Ta xưa tu hành đạo Bồ tát, cảm thành thọ mạng nay vẫn chưa hết, lại còn hơn số trên, nhưng nay chẳng phải thiệt diệt độ, mà bèn xướng nói sẽ diệt độ. Đức Như Lai dùng phương tiện đó giáo hóa chúng sanh.”

Những ý nghĩa trên, nếu chúng ta nhìn bằng cái nhìn thiền quán sẽ cảm nhận hoa Ưu Đàm đến ngày nay vẫn còn chứ chưa hề mất. Trên bình diện hình thức thì hoa Ưu Đàm không còn nữa nhưng ý nghĩa sâu xa của nó thì đó là loại hoa Bất diệt như những gì Đức Phật chỉ dạy “Hoa Đàm tuy rụng vẫn còn hương, Ngào ngạt bốn phương ngàn nhạc trổi

Nếu Đức Thế Tôn không khéo léo dùng phương tiện ấy hóa độ chúng sanh thì chúng sanh vẫn mãi vui đùa cùng thú vui ngũ dục, đam mê các dục lạc và giải đãi trong việc thăng hoa đời sống thánh thiện của mình. Đức Phật dạy nếu Ngài trụ thế lâu nơi đời thì chúng ta sẽ không chịu tu vì do phước mỏng nghiệp dày, không trồng cội lành, nghèo cùng hèn hạ, ham ưa năm món dục, sa vào trong lưới nhớ tưởng vọng kiến. Nếu thấy Đức Như Lai thường còn chẳng mất, bèn sanh lòng buông lung nhàm trễ. Đức Phật là một bậc Thầy tâm lý vĩ đại mà chưa có bậc Thầy vĩ đại nào sánh bằng. Nên Ngài phương tiện nói rằng: “Các Đức Phật ra đời khó có thể gặp gỡ.”

Nhìn bằng cặp mắt của kẻ vô văn phàm phu thì quả thật không thấu hiểu được hết ý nghĩa của các bậc Chân Nhân và bậc Thánh. Và vì vậy để hiểu rõ thông điệp Đức Phật đã dạy cho tất cả chúng sanh, chúng ta cần phải thực hành tam vô lậu học và từ đó có cái nhìn bằng tuệ giác. Chính ánh sáng giác ngộ ấy chỉ cho chúng ta một con đường tâm linh hướng thượng mà Đức Phật đã khai mở. Muốn trải nghiệm con đường giác ngộ ấy hành giả cần phải thể nghiệm trong công phu tu tập và tư duy thực tập ba bước Giới Định Tuệ. Từ bước đầu tam học Văn Tư Tu một cách nhuần nhuyễn chắc chắn hành giả tiến đến con đường giải thoát bằng tuệ giác với hành trang tam vô lậu học Giới Định Tuệ được căn cứ trên nguyên lý Nhân Quả là một điều khả thi cho tất cả mọi người.

Tóm lại, trong tất cả chúng sanh, ai cũng sẽ có thành quả giải thoát giác ngộ là một điều chắc chắn là một lẽ thật mà chúng ta đều được thừa hưởng. Bởi vì nguyên lý giác ngộ bình đẳng đối với mọi chúng sanh nhưng con đường đi tới Bảo Sở ấy rất tùy thuộc vào sự hạ thủ công phu của mỗi hành giả. Bởi vì chúng ta mỗi người mang trong mình một đóa hoa bất diệt. Chính đóa hoa ấy đã nở ra tại vườn Lâm Tỳ Ni trên 2,500 năm trước mở ra một kỷ nguyên sáng lạng huy hoàng mà chúng ta đầy đủ duyên lành gặp được. Đóa hoa ưu đàm đã nở đón chào Đức Thế Tôn và Ngài đã thành tựu, còn đóa hoa ưu đàm sẽ nở trong tất cả chúng sanh trong tương lai và từng bước chúng ta trở về thể nghiệm với đóa hoa bất diệt ngay trong tâm của chính mình vậy.

Tỳ kheo: Thích Quảng Long

From: Dinh Hoang <dinhhoang194@yahoo.com>
Date: Sun, Sep 1, 2024 at 9:08 PM

THƯỢNG TOẠ THÍCH QUẢNG LONG - VỊ BỒ TÁT GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Mùa hè năm ấy có lẽ là một mùa hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươi tại miền Bắc. Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng trước mặt, ngay cả cái ván lót trên sàn nằm cũng toát ra hơi nóng. Những người tù nhân chính trị chế độ cũ như trong một lò ngục tối trên trần gian, ban ngày thì lao động khổ sai đổ mồ hôi không phải đổi lấy bát cơm mà đổi lấy ít thức ăn độn như khoai hay sắn hay bo bo mà vẫn không đủ no, ban đêm thì cố giỗ giấc ngủ trong cái nóng như nung như đốt ấy trong cái cả nh nằm xếp hai từng như cá đóng hộp trong buồng giam. Mồ hôi lại đổ ra cho đến khi mệt lả người đi thì giấc ngủ chập chờn mới đến.

Cái nóng kinh người đã kéo dài cả tháng nay và đồng ruộng đã nứt nẻ, các em bé chăn trâu mà Trung và các bạn gặp trên đường đi lao động cũng môi khô và chui vào các bụi cây trú nắng. Các giếng nước cũng từ từ khô cạn đưa đến nạn thiếu nước trầm trọng cho cả dân chúng những làng bên ngoài lẫn những người tù khốn khổ trong trại.

Buổi trưa hôm đó cũng như mọi ngày sau khi lao động về, ăn xong phần ăn trưa ít ỏi, các người tù cố nằm giỗ giấc ngủ ngắn để lấy sức lao động buổi chiều thì thấy một vị sư già đang ngồi ngoài sân nắng trong thế kiết già cả nửa tiếng đồng hồ và mặt ngước nhìn thẳng lên trời. Những khi hạn hán thì thầy vẫn cầu nguyện như thế và sau đó chiều tối hay trước nửa đêm thể nào mưa giông cũng kéo đến. 
Đêm nay cũng thế, Trung cố giỗ giấc ngủ để mà mai còn sức trả cái nợ lao động nhưng không làm sao nhắm mắt được, mồ hôi trên người cứ nhỏ từng giọt như làm cho sức khỏe của anh cạn dần đi theo đêm. Anh nhớ tới thằng bạn thân nằm bên cạnh nói với anh hồi chiều rằng chỉ ước ao ông Trời cho một trận mưa chứ đã tù cả chục năm rồi cũng chẳng mơ ước xa xôi gì ngày trở về nữa.

Thế rồi, như một phép lạ những làn gió mát từ đâu từ từ thổi đến, len lỏi vào những khung cửa sổ, luồng dưới những cánh cửa buồng giam và từ xa xa vài lằn chớp nhoáng lên bên trời. Chẳng bao lâu sau thì những giọt mưa, ôi những giọt mưa cam lồ của Trời ban xuống như thêm sức mạnh cho những người tù biệt xứ lưu đày. Các buồng giam không ai bảo ai đều thức dậy và tung mùng ra để được hít thở những giây phút mát rượi của làn gió lùa vào trại giam

Vô tình Trung nhìn xuống nơi vị sư già giam cùng buồng với anh, thầy vẫn như còn đang ngồi thiền trong mùng, mặt quay vào tường trong thế kiết già. Trung chợt hiểu và các bạn anh cũng hiểu rằng chính nhờ thầy cầu nguyện mà đã có trận mưa đêm nay. 

Vị sư già đó chính là Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH – Thượng Tọa Thích Quảng Long, một người tù xuất chúng đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu kính nể
Giang sơn của thầy cũng là một tấm chiếu, hai bộ quần áo tù, và một cái chăn đỏ Trung Quốc như mọi người và nằm một dãy với các Đại Đức Tuyên Úy khác.

Anh nhớ đến thầy Khuê, một vị Tuyên Úy Phật Giáo và Tam Đẳng Huyền Đai Nhu Đạo võ đường Quang Trung, một vị Đại Đức mà anh rất mến thương và kính trọng, đã từng nói với anh rằng nếu nói về đạo Phật, về sự tu hành thì hãy lấy thầy Long mà làm gương; đừng vì một vài vị Tuyên Úy đã không nghiêm giữ được giới răn mà hiểu lầm về đạo Phật mà mất đi niềm tin.

Anh nhớ lại câu chuyện lúc mới bước chân vào trại giam Long Thành sau khi Sài Gòn sụp đổ và hầu như mọi người đều không biết bấu víu vào đâu, niềm tin vào các tôn giáo cũng bị lung lay thì một sự việc đã xảy ra làm mọi người đều kính trọng thầy, nhất là khi biết hai tòa đại sứ bạn đã đến đón thầy đi di tản trước đó nhưng thầy đã khẳng khái chối từ và thanh thản bước chân vào trại giam.

Trong thời gian mới bị giam giữ, một hôm thầy được gọi ra làm việc để gặp hai vị sư quốc doanh là Thượng Tọa Thích Minh... và Thích Thiện... Hai vị này ra sức thuyết phục và chiêu dụ thầy để thầy ủng hộ phong trào “Phật giáo yêu nước”, và nói sẽ bảo lãnh cho thầy ra khỏi tù ngay để nhờ thầy góp công góp sức xây dựng phong trào Phật Giáo Yêu Nước này. Hai vị sư này chính là người mà Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã bắt giam trước năm 1975 vì hoạt động cho Cộng Sản. Thích Minh ... đã bị đày ra Côn Đảo, còn Thích Thiện ... thì thường được gọi là Ôn TĐ. Sau đó chính Thượng Tọa Thích Quảng Long là người đã đứng ra bảo lãnh cho họ ra khỏi tù để ăn năn hối cải mà trở về lại con đường tu hành vì họ đã bị lộ hình tích. Không ngờ ông trời trớ trêu để có ngày họ lại đến trại Long Thành và đối đầu với thầy trong hoàn cảnh đặc biệt này của đất nước.

Thầy nhìn hai vị sư quốc doanh kia và từ tốn chậm rãi nhưng thật cương quyết thầy nói:

“Các ông đã dựng nên cái phong trào “Phật Giáo yêu nước” ấy thì các ông cứ tiếp tục công việc mà các ông đã làm, còn tôi là một Tuyên Úy trong quân đội và tôi sẽ theo chân các Phật tử trong các trại giam, họ đi đến đâu thì tôi cũng sẽ đi đến đấy với họ cho tới cùng. Thôi các ông về đi”.

Và sau đó thầy chấp nhận việc chuyển trại ra Bắc mở đầu cho một quãng đời biệt xứ lưu đày.

Những ai có may mắn gặp thầy trong trại giam thầy đều kính trọng vị sư già này, người mà lúc nào cũng như mỉm cười, hòa nhã, giản dị, khiêm tốn và giúp đỡ tất cả mọi tù nhân mỗi khi thầy có phương tiện.

Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái là nơi mà trước kia Pháp đã từng giam giữ những tù nhân bị án lưu đày. Năm sau thì thầy có tên trong số những tù nhân di chuyển về trại Yên Hạ, trại giam này nằm dưới thung lũng và bao vây chung quanh bởi những dãy núi đá vôi, thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trại Yên Hạ là nơi chuyên giam giữ những tử tội hình sự cướp của giết người mà đã được nhà nước “khoan hồng” tha cho tội chết.

Chỉ hơn một năm sau thì các tù nhân này dần dần kiệt sức vì lao động khổ sai, thiếu dinh dưỡng, thiếu ăn nhất là thiếu chất mỡ và đường, và vì khí độc từ dãy núi đá vôi phả vào từ chung quanh. Bởi thế chỉ sau một thời gian ngắn chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, ai nấy đều gầy như bộ xương còn biết đi. Khi đi lao động hay đi trở về trại, người ta chỉ thấy những bộ quần áo tù phấp phới bay mà chẳng thấy da thịt đâu. Thế rồi sau bốn năm trời giam cầm và lưu đày, một số những người tù lần đầu tiên được nhận một gói nhỏ tiếp tế cực kỳ quí giá từ gia đình trong Nam gửi ra, một số khác thì vẫn chưa nối lại được sợi dây với gia đình trong Nam.

Trong gói nhỏ mà các Phật tử gởi cho thầy Long có 15 cục đường móng trâu, lúc đó ai mà có được 5 cục đường như thế thì đã là thần tiên rồi, nhưng thầy từ từ đem ra phân phát hết 15 cục đường quí giá đó cho những người cùng buồng.
Ưu tiên những tù nhân nào mà đã kiệt lực thì được một cục, những người đau ốm khác thì mỗi người được nửa cục mà thôi, còn riêng thầy thì không có một miếng đường nào hết

Những người tù này khi nhận được cục đường từ tay thầy phân phát đã không cầm được nước mắt trước tấm lòng vị tha, quảng đại vô biên của một vị sư mà tâm đã định và huệ đã ngời sáng.

Thầy cũng không thoát được những vụ hỏi cung, một hình thức tra tấn tinh thần những người tù khốn khó này trong trại giam. Một tên cán bộ từ Hà Nội vào với mái tóc hoa râm có vẻ là một viên chức cao cấp thuộc Bộ Nội Vụ đã hỏi cung thầy trong ba ngày liên tiếp. Hắn vứt cho thầy tờ giấy để tối về khai báo những tội lỗi đã chống đảng, nhà nước và nhân dân trước kia khi hoạt động ở Sài Gòn cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Sáng hôm sau, khi kêu ra làm việc tiếp tục, thầy đã nộp bản khai báo cho hắn, vừa xem xong thì hắn đùng đùng nổi giận ném tờ khai xuống bàn và quát tháo:

Anh khai báo thế này hả? Tại sao anh lại chép Chú Đại Bi vào đây? anh muốn tù rục xương ra không?”.

Vẫn thái độ bình tĩnh và từ tốn của một vị cao tăng thầy chậm rãi trả lời:
“Thì đây chính là những gì mà tôi đã làm và đã tụng niệm khi xưa, có thế thôi!”.

Hắn với vẻ mặt hầm hầm liệng cho thầy một tờ giấy khác để khai báo lại một cách thành khẩn để được sớm khoan hồng. Sáng ngày hôm sau, thầy nộp cho hắn một tờ thứ hai và trên tờ đó thầy chép lại thật nắn nót bài Kinh Bát Nhã. Đến đây thì hắn nổi điên lên và mạt sát thầy thậm tệ và đe dọa rằng thầy sẽ tù mọt gông và đừng mong sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Thầy ung dung trả lời rằng:

Các ông cứ việc giam giữ tôi bao lâu cũng được, tôi chỉ xin các ông hãy thả hết những người tù chính trị chế độ cũ mà các ông đang giam giữ mà thôi”.

Từ đó đến sau, chúng ít khi kêu thầy ra hỏi cung nữa cho đến mãi năm 87, trước khi có một đợt thả lớn tại trại Ba Sao Nam Hà thì trong các vị Tuyên Úy bị hỏi cung có tên thầy. Nhưng đặc biệt lần này chúng gọi thầy bằng thầy chứ không gọi là anh như trước nữa, tuy nhiên chúng vẫn dụ dỗ thầy nhận tội để được khoan hồng. Thầy trả lời rằng các ông cứ thả hết các ông đại đức tuyên úy ra đi vì họ chẳng có tội lỗi gì hết tất cả đều do tôi và họ đều làm theo chỉ thị của tôi hết, muốn gì thì cứ giữ tôi ở lại đến bao lâu cũng được. Chúng đành chào thua và chỉ vài tháng sau thì thầy có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại cùng với tất cả các đại đức và những vị mục sư linh mục khác trong các Nha Tuyên Úy quân đội.

Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc.

Về miền Nam, thầy trở lại chùa Giác Ngạn trên đường Trương Minh Ký cũ ở Sài Gòn để lại lo Phật sự, cúng kiến giúp đỡ các gia đình Phật tử. Khi đi đâu tụng kinh thầy vẫn đơn sơ trong chiếc áo nâu sòng và phe phẩy chiếc quạt đã sờn rách và môi luôn nở nụ cười hiền hậu giống như một ông già nhà quê chất phát hiền lành.

Chùa Vĩnh Nghiêm có vời thầy ra nhưng thầy vẫn ở lại Giác Ngạn – ngôi chùa mà thầy góp công xây dựng lên và trụ trì cho tới khi mất nước – cho tới khi thầy viên tịch vài năm sau đó.

Vũ Ánh Oakland, CA